(Hoàng Minh Tuyển dịch từ Web site China History)
Theo một học giả Trung Hoa, ông Tsui Chi trong cuốn Histoire de la Chine et de la Civilisation Chinoise (Payot, 1949) thì thời khai thiên lập địa, trời và đất như lòng trắng và lòng đỏ trứng gà; rồi ông Bàn Cổ sinh ra, lấy những chất trong và sáng tạo ra trời, những chất đục và tối tạo ra đất. Mỗi ngày ông lớn lên được một trượng (khoảng 3 mét), trời cao thêm được một trượng và đất cũng dày thêm được bấy nhiêu. Ông sống được 18.000 năm, khi ông mất thì trời cao lắm và đất cũng dày lắm rồi.
Ông khóc, nước mắt ông chảy xuống trở thành sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, ông thở thành gió, nói thì thành sấm, mắt ông đưa qua chớp lại thành chớp? Khi ông mất, xác ông rơi xuống từng mảnh thành năm ngọn núi thiêng ở Trung Hoa, tức Ngũ Nhạc (Thái Sơn, Hoa Sơn...); hai mắt ông thành mặt trời, mặt trăng, mỡ của ông chảy ra thành sông, biển và tóc ông đâm rễ trong lòng đất, thành cây cối.
2. Tam Hoàng
Không rõ bao nhiêu năm sau khi Bàn Cổ chết thì có những ông vua đầu tiên của Trung Quốc; mà ba ông vua - Tam Hoàng - đó là ai thì các học giả Trung Hoa không nhất trí với nhau. Có ít nhất ba giả thuyết:
a. Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng.
b. Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế.
c. Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông (theo Tsui Chi, sách đã dẫn).
3. Ngũ Đế
Sau Tam Hoàng tới Ngũ Đế. Cũng có nhiều thuyết về Ngũ Đế:
a. Thái Hạo, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hạo, Chuyên Húc.
b. Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc.
c. Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Chí (theo Từ Hải).
d. Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn (theo Tsui Chi).
Thật là lộn xộn, cùng một ông, như Thần Nông, khi thì gọi là Hoàng, khi gọi là Đế, khi thì làm vua trước Hoàng Đế (2b), khi thì sau (3a).
Những ông được nhắc tới nhiều nhất là:
- Hoàng Đế, một ông được coi là tạo nên nền văn minh Trung Hoa: chữ viết, công nghệ; bà vợ ông dạy cho dân tộc Trung Hoa nuôi tằm, dệt lụa.
- Thần Nông, dạy dân cày ruộng, trồng lúa, và tìm được nhiều cây để chữa bệnh.
- Phục Hi (cũng gọi là Thái Hạo), đặt ra bát quái, căn bản của Kinh Dịch.
Nên kể thêm bà Nữ Oa, có công luyện đá ngũ sắc để vá trời khi trời sụp đổ vì những cây cột chống trời gãy.
Mấy vị đó toàn là do dân Trung Hoa tưởng tượng ra cả rồi cho họ trị vì từ khoảng – 2.900 (dấu - trước con số có nghĩa là trước kỷ nguyên Tây lịch) tới khoảng – 2.350.
Chỉ có hai ông Nghiêu, Thuấn là có thể coi bán thực bán huyền (semi-historique). Dân tộc Trung Hoa tin rằng thời đại hoàng kim của họ là thời Nghiêu, Thuấn, hai ông vua mà họ coi là bậc thánh (Nghiêu: - 2.356 – 2.255, Thuấn – 2.255 – 2.205) rất bình dân, sống trong nhà lá, ăn mặc đạm bạc, giản dị như dân, rất yêu dân và giỏi trị nước: người dân nào cũng sung sướng, đủ ăn; không có trộm cướp
600,000 trước CN: Xương đầu hoá thạch được khai quật ở tỉnh Shanxi năm 1963
400,000 trước CN: Hoá thạch người vượn Băc Kinh đựoc khai quật năm 1923 ỏ Chu Khẩu Điếm (周口店) gần Bắc Kinh
50,000-35,000 Trước CN : Đồ dùng hậu thời kỳ đồ đá được khai quật ở hang vùng thượng Chu Khẩu Điếm
4,000-bc3,000 trước CN: Phát hiện nơi tập trung dân cư như làng xóm trong vùng ven sông Hoàng Hà -Huang He (黃河) đồng bằng phía Bắc Trung Quốc.
3,000-bc2,000 Trước CN: Phát hiện ra các lọ, bình đất, gốm ở làng Yangshao (Ngưỡng Thiều) (仰韶) phía Tây bắc TQ và ở Lungshan (Long Sơn) (龍山) Đông Bắc, Tỉnh Sơn Đông (Shandong)
Huangdi-Xuanyuan (Hoàng Đế-Hiên Viên Thị),kế vị 99 năm
- 黃帝軒轅氏 (bc2697?-bc2599?,計99年)
Shaohan-Jintian (Thiểu Hạo-Kim Thiên Thị), kế vị 84 năm
-少昊金天氏 (bc2598?-bc2515?,計84年)
Zhuanxu-Gaoyang (Chuyên Húc-Cao Dương Thị, kế vị 78 năm)
-顓頊高陽氏 (bc2514?-bc2437?,計78年)
Diku-Gaoxin (Đế Khốc-Cao Tân Thị, kế vị 70 năm)
-帝嚳高辛氏 (bc2436?-bc2367?,計70年)
Dizhi-Gaoxin (Đế Chí -Cao Tân Thị, kế vị 9 năm)
- 帝摯高辛氏 (bc2366?-bc2358?,計9年)
Tangyao (Đường, Nghiêu, kế vị 100 năm)
-唐堯 (bc2357?-bc2258?,計100年)
Yushun (Ngu Thuấn , kế vị 50 năm)
- 虞舜 (bc2257?-bc2208?,計50年)
Xia (Hsia) (Hạ, Vũ,Kiệt)
- 夏 (bc2207?-bc1766?,計442年)
Thời gian |
Triều đại
|
|
|
|
ca. 2000-1500 B.C.
|
|
||
|
1700-1027 B.C.
|
Shang (Thương-
Ân-Trụ)
|
|
|
|
1027-771 B.C.
|
Western Zhou Tây Chu
|
|
|
|
770-221 B.C.
|
Eastern Zhou (Đông Chu)
|
|
|
|
770-476
B.C. -- Spring and Autumn period (Xuân
Thu chiến quốc) |
|
||
|
475-221
B.C. -- Warring States period (Tam Quốc diễn nghĩa) |
|
||
|
221-207 B.C.
|
|
||
|
206 B.C.-A.D. 9
|
|
||
|
A.D. 9-24
|
Xin (Wang Mang interregnum)
|
|
|
|
A.D. 25-220
|
|
||
|
A.D. 220-280
|
Three Kingdoms (Tam Quốc)
|
|
|
|
220-265 – Wei (Nguỵ)
|
|
||
|
221-263 – Shu (Thục)
|
|
||
|
229-280 – Wu (Ngô)
|
|
||
|
A.D. 265-316
|
Western Jin (Tây Tấn)
|
|
|
|
A.D. 317-420
|
Eastern Jin (Đông Tấn) |
|
|
A.D. 420-588 |
Southern and Northern
Dynasties (Nam-Bắc triều)
|
|
|
|
420-588
|
Southern Dynasties
|
|
|
|
420-478 – Song (Tống)
|
|
||
|
479-501 – Qi (Tề)
|
|
||
|
502-556 – Liang (Lương)
|
|
||
|
557-588 – Chen (Trần)
|
|
||
|
386-588
|
Northern Dynasties
|
|
|
|
386-533 -- Northern Wei (Bắc Nguỵ)
|
|
||
|
534-549 -- Eastern Wei (Đông Nguỵ )
|
|
||
|
535-557 -- Western Wei (Tây Nguỵ)
|
|
||
|
550-577 – Northern Qi (Bắc Tề)
|
|
||
|
557-588 -- Northern Zhou (Bắc Chu)
|
|
||
|
A.D. 581-617
|
|
||
|
A.D. 618-907
|
|
||
|
A.D. 907-960
|
Five Dynasties
|
|
|
|
907-923 -- Later Liang (Hậu Lương)
|
|
||
|
923-936 -- Later Tang (Hậu Đườ
ng)
|
|
||
|
936-946 – Later Jin (hậu Tấn)
|
|
||
|
947-950 -- Later Han (Hậu Hán)
|
|
||
|
951-960 -- Later Zhou (Hậu Chu)
|
|
||
|
A.D. 907-979
|
Ten Kingdoms
|
|
|
|
A.D. 960-1279
|
|
||
|
960-1127 -- Northern Song
(Bắc Tống)
|
|
||
|
1127-1279 -- Southern Song
(Nam Tống)
|
|
||
|
A.D. 916-1125
|
Liao (Liêu)
|
|
|
|
A.D. 1038-1227
|
Western Xia (Tây Hạ)
|
|
|
|
A.D. 1115-1234
|
Jin (Tấn)
|
|
|
|
A.D. 1279-1368
|
|
||
|
A.D. 1368-1644
|
Ming (Minh)
|
|
|
|
A.D. 1644-1911
|
|
||
Sụp đổ Nhà Minh
Sự sụp đổ của nhà Minh xảy ra trong một thời gian dài và nó khởi nguồn ngay từ năm 1600 với sự xuất hiện của Mãn Châu dưới sự lãnh đạo của Nurhaci (Nỗ Nhĩ Cáp Xích). Với ưu thế pháo binh của mình, nhà Minh liên tục đẩy lùi người Mãn Châu, đặc biệt trong các năm 1623 và 1628. Tuy nhiên, họ không thể chiếm lại được quyền kiểm soát của mình đối với người Mãn Châu và cả vùng đất đó. Từ năm 1629 về sau này, nhà Minh kiệt sức với những vụ tranh giành quyền lực bên trong và những vụ tấn công ở miền bắc từ phía người Mãn Châu; họ đã chuyển sang chiến thuật đột kích nhằm tránh đối mặt với quân đội Minh trong những trận chiến lớn.Không thể tấn công trực tiếp vào đầu não nhà Minh, người Mãn Châu chờ đợi cơ hội của mình, phát triển pháo binh của riêng họ và thành lập các liên minh. Họ có được các quan chức trong triều nhà Minh làm quân sư cho mình. Năm 1633 họ hoàn thành việc chinh phục Nội Mông, dẫn tới việc tuyển được một số lượng lớn lính Mông Cổ dưới cờ Mãn Châu và chiếm được một con đường nữa dẫn tới trung tâm đế chế Minh.
Tới năm 1636 vua Mãn Châu là Hoàng Thái Cực đã đủ tự tin để tuyên bố thành lập đế quốc nhà Thanh tại Thẩm Dương, vùng đất đã bị người Mãn Châu chiếm từ năm 1621, và lấy đế hiệu là Sùng Đức. Cuối năm 1637 đồng minh truyền thống của nhà Minh là Triều Tiên bị đánh bại và chinh phục bởi đội quân mạnh mẽ với 10 vạn người của Mãn Châu, và Triều Tiên chấm dứt công nhận nhà Minh.
Ngày 26 tháng 5, 1644, Bắc Kinh rơi vào tay quân khởi nghĩa do Lý Tự Thành lãnh đạo. Nắm lấy cơ hội này, người Mãn Châu vượt qua Vạn lý trường thành sau khi viên tướng giữ biên giới của nhà Minh là Ngô Tam Quế mở cổng thành tại Sơn Hải quan, và nhanh chóng đánh bại, lật đổ triều đình Đại Thuận với thời gian tồn tại ngắn ngủi 40 ngày của Lý Tự Thành. Dù đã mất Bắc Kinh (nơi Chu Nguyên Chương từng cho là không nên lựa chọn làm thủ đô đế chế) và hoàng đế qua đời, quyền lực của nhà Minh vẫn chưa bị tiêu diệt hẳn. Nam Kinh, Phúc Kiến, Quảng Đông, Sơn Tây và Vân Nam trên thực tế đều là những pháo đài mạnh cho sự chống cự của nhà Minh. Tuy nhiên, việc mất chính quyền trung ương khiến nhiều kẻ ngấp nghé ngôi báu và vì vậy họ không thể liên kết với nhau. Tới năm 1662, từng pháo đài một bị người Thanh đánh bại, và những hy vọng cuối cùng cho sự hồi phục của nhà Minh mất đi cùng với hoàng đế Vĩnh Lịch Chu Do Lang.
Các Hoàng đế triều Minh
|
Tên
riêng
|
Năm
cai trị
|
Tên
thường dùng nhất |
|||
|
Chu
Nguyên Chương
朱元璋 |
Cao
Đế
高帝 |
Thái
Tổ
太祖 |
Hồng
Vũ
洪武 |
||
|
Chu
Doãn Văn
朱允炆 |
Huệ
Đế
惠帝 |
Không
có²
|
Kiến
Văn
建文 |
||
|
Chu
Đệ /Lệ
朱棣 |
Văn
Đế
文帝 |
Thành
Tổ, 成祖 hay
Thái Tông, 太宗 |
Vĩnh
Lạc
永樂 |
||
|
Chu
Cao Xí
朱高熾 |
Chiêu
Đế
昭帝 |
Nhân
Tông
仁宗 |
Hồng
Hi
洪熙 |
||
|
Chu
Chiêm Cơ
朱瞻基 |
Chương
Đế
章帝 |
Tuyên
Tông
宣宗 |
Tuyên
Đức
宣德 |
||
|
Chu
Kỳ Trấn
朱祁鎮 |
Duệ
Đế
睿帝 |
Anh
Tông
英宗 |
|||
|
Chu
Kỳ Ngọc
朱祁鈺 |
Cảnh
Đế
景帝 |
Đại
Tông
代宗 |
Cảnh
Thái
景泰 |
||
|
Chu
Kiến Thâm
朱見深 |
Thuần
Đế
純帝 |
Hiến
Tông
憲宗 |
Thành
Hoá
成化 |
||
|
Chu
Hữu /Hựu Đường
朱祐樘 |
Kính
Đế
敬帝 |
Hiếu
Tông
孝宗 |
Hoằng
Trị
弘治 |
||
|
Chu
Hậu Chiếu
朱厚照 |
Nghị
Đế
毅帝 |
Vũ
Tông
武宗 |
Chính
Đức
正德 |
||
|
Chu
Hậu Thông
朱厚熜 |
Túc
Đế
肅帝 |
Thế
Tông
世宗 |
Gia
Tĩnh
嘉靖 |
||
|
Chu
Tái /Tải Hậu
朱載垕 |
Trang
Đế
莊帝 |
Mục
Tông
穆宗 |
Long
Khánh
隆慶 |
||
|
Chu
Dực Quân
朱翊鈞 |
Hiển
Đế
顯帝 |
Thần
Tông
神宗 |
Vạn
Lịch
萬曆 |
||
|
Chu
Thường Lạc
朱常洛 |
Trinh
Đế
貞帝 |
Quang
Tông
光宗 |
Thái
Xương
泰昌 |
||
|
Chu Do Hiệu /Giáo
朱由校 |
Triết
Đế
悊帝 |
Hy
Tông
熹宗 |
Thiên
Khải
天啟 |
||
|
Chu
Do Kiểm
朱由檢 |
Trang
Liệt Mẫn
莊烈愍 |
Tư
Tông
思宗 |
Sùng
Trinh
崇禎 |
||
|
1 Vì thụy hiệu và miếu
hiệu thường trùng lặp đối với hoàng đế ở các triều đại khác nhau, thường
chúng được gắn tên triều đại ở trước, trong trường hợp này là Minh để tránh
nhầm lẫn. Ví dụ, hoàng đế Hồng Vũ thường được gọi là Minh Thái Tổ. |
|||||
|
2 Hoàng đế Vĩnh Lạc chiếm
ngôi của cháu trai là Kiến Văn, theo chính sử Kiến Văn bị coi là chết trong một
vụ cháy ở hoàng cung nhưng có ý kiến nghi ngờ rằng ông đã bỏ trốn để sống ẩn
dật. Vĩnh Lạc xóa bỏ mọi điều liên quan tới triều đại của cháu và không đặt
miếu hiệu cho Kiến Văn. Hoàng đế Vĩnh Lạc cũng chính là người cho quân sang
đô hộ Việt Nam (1407-1427). |
|||||
|
3 Sau khi nghe những lời
cố vấn của các hoạn quan, Hoàng đế Chính Thống đã đích thân chỉ huy một chiến
dịch chống lại người Mông Cổ năm 1449
và bị bắt giữ. Em trai ông, Hoàng đế Cảnh Thái lên ngôi và vì thế việc bắt giữ
con tin không còn giá trị gì nữa, người Mông Cổ thả Chính Thống và ông quay về
nước sống trong sự ẩn dật. Tuy nhiên, Chính Thống vẫn chiếm lại được ngôi báu
sau khi em ông ta ốm nặng, lựa chọn tên giai đoạn cai trị sau này là Thiên
Thuận. |
|||||
Các
Hoàng đế triều Nam Minh
|
Tên
riêng
|
Năm
cai trị
|
Tên
thường gọi nhất |
||
|
Chu
Do Tung
朱由崧 |
An
Tông
安宗 |
Hoằng
Quang
弘光 |
Phúc Vương
福王 |
|
|
Chu
Duật Kiện
朱聿鍵 |
Thiệu
Tông
紹宗 |
Long
Vũ
隆武 |
Đường Vương
唐王 |
|
|
Chu
Thường Phương
朱常淓 |
Không
có
|
Không
có,
nhưng thỉnh thoảng được gọi là Lộ Vương Lâm Quốc 潞王臨國 |
Lộ Vương
潞王 |
|
|
Chu
Dĩ Hải
朱以海 |
Không
có
|
Không
có,
nhưng thỉnh thoảng được gọi là Lỗ Vương Lâm Quốc 魯王臨國 |
Lỗ Vương
魯王 |
|
|
Chu
Duật [Kim Việt]
朱聿[金粵] |
Không
có
|
Thiệu
Vũ
紹武 |
Đường Vương
唐王 |
|
|
Chu
Do Lang
朱由榔 |
Không
có
|
Vĩnh
Lịch
永曆 |
Quế Vương
桂王 |
Nhà Thanh
Nhà Thanh không phải là một triều đại do
người Hán, là dân tộc chiếm đa số ở Trung Quốc, mà do người
Mãn
Châu thiểu số thành lập. Vốn là những người du mục bán khai, người Mãn Châu
dần chiếm ưu thế tại vùng hiện ở phía đông bắc Trung Quốc. Quốc gia Mãn Châu được
Nurhaci (Nỗ Nhĩ Cáp Xích) thành lập vào đầu thế kỷ 17. Ban đầu
chỉ là một nước chư hầu của nhà Minh, ông tự tuyên bố mình là hoàng
đế của nước Hậu Kim năm 1609. Cùng năm ấy, ông phát triển các nguồn tài
nguyên kinh tế, con người của đất nước cũng như kỹ thuật bằng cách thu nhận những
người Hán sống tại vùng Mãn Châu. Năm 1625, Nurhaci lập thủ đô tại Thẩm Dương (tiếng Mãn Châu:
Mukden), nhưng năm sau ông phải chịu một thất bại quân sự lớn đầu tiên trước một
vị tướng nhà Minh là Viên Sùng Hoán. Nurhaci chết năm đó. Một trong những
thành tựu lớn nhất của ông là việc tạo lập hệ thống Bát Kỳ (Eight Banner
system), theo đó mọi người dân Mãn Châu đều thuộc một trong tám "Kỳ",
đó vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự. Các Kỳ được đặt tên như
vậy bởi vì mỗi nhóm được phân biệt bởi một lá cờ khác nhau.Người kế tục Nurhaci, Huang Taiji (Hoàng Thái Cực, một số tài liệu chép là Abahai), tiếp tục tiến hành công việc dựa trên các nền móng được người cha để lại, sáp nhập các kỳ của người Hán đầu tiên vào quân đội của mình. Hoàng Thái Cực cũng chấp nhận việc áp dụng nhiều cơ cấu chính trị kiểu nhà Minh vào đất nước mình, nhưng luôn giữ ưu thế của người Mãn Châu trong các cơ cấu đó thông qua một hệ thống định mức phân bổ. Khi Lingdan Khan, vị đại hãn cuối cùng của người Mông Cổ, chết trên đường tới Tây Tạng năm 1634, con trai ông Ejei đã đầu hàng người Mãn Châu và trao lại đại ấn của Hoàng đế Nguyên cho Hoàng Thái Cực. Năm 1636 Hoàng Thái Cực đổi tên nước thành Thanh, có nghĩa là thanh khiết, biểu hiện những tham vọng đối với vùng Mãn Châu. Cái tên Thanh được lựa chọn bởi vì tên của nhà Minh (明) được cấu thành từ các ký hiệu của chữ nhật (日, mặt trời) và nguyệt (月, mặt trăng), đều liên quan tới hỏa mệnh. Chữ Thanh (清) được cấu thành từ chữ căn bản là thuỷ (水, nước) và từ chỉ màu xanh (青), cả hai đều là mệnh thuỷ. Trong một loạt những chiến dịch quân sự, Hoàng Thái Cực đã khuất phục được vùng Nội Mông và Triều Tiên trước khi tiếp tục chiếm quyền kiểm soát vùng Hắc Long Giang, nằm gần sông Amur.
[sửa] Tuyên bố Thiên mệnh
Bắc Kinh đã bị một liên minh những lực lượng nổi loạn do Lý Tự Thành cầm đầu vào cướp phá. Nhà Minh chính thức kết thúc khi Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm, vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh treo cổ tự tử trên một cành cây tại Môi Sơn cạnh Tử Cấm Thành. Sau khi chiếm Bắc Kinh vào tháng 4 năm 1644, Lý Tự Thành dẫn đầu một đội quân mạnh gồm 600.000 người chiến đấu với Ngô Tam Quế, vị tướng chỉ huy lực lượng đồn trú 100.000 lính bảo vệ Sơn Hải Quan (山海關) của nhà Minh. Sơn Hải Quan là cửa ải có vị trí trọng yếu ở phía đông bắc Vạn lý trường thành cách Bắc Kinh năm mươi dặm về phía đông bắc và trong nhiều năm lực lượng đồn trú tại đây luôn phải chiến đấu ngăn chặn người Mãn Châu bên ngoài thủ đô Bắc Kinh. Bị kẹt giữa hai kẻ thù, Ngô Tam Quế đã quyết định đánh liều vận may với người Mãn Châu và liên minh với hoàng tử Drogon (Đa Nhĩ Cổn), khi ấy đang làm nhiếp chính cho Hoàng đế Thuận Trị mới lên sáu, con trai của Hoàng Thái Cực mới chết năm trước.
Liên minh này đánh bại các lực lượng nổi loạn của Lý Tự Thành trong trận chiến ngày 27 tháng 5, 1644. Quá trình tiêu diệt các lực lượng trung thành với nhà Minh, những kẻ nhòm ngó ngôi báu và những kẻ phiến loạn khác kéo dài thêm mười bảy năm nữa. Vị vua cuối cùng của nhà Minh, Vĩnh Lịch, chạy trốn tới Miến Điện, tức Myanma hiện nay, nhưng bị bắt và giao lại cho lực lượng viễn chinh của nhà Thanh do Ngô Tam Quế cầm đầu. Ông bị hành quyết tại tỉnh Vân Nam đầu năm 1662.
[sửa] Khang Hi và sự củng cố quyền lực
Hoàng đế Khang Hi (khoảng 1662 - 1722)
Hoàng đế Khang Hi (khoảng 1662 - 1722) lên ngôi khi mới tám tuổi. Trong những năm cầm quyền đầu tiên ông được bà của mình là Thái hoàng thái hậu Hiếu Trang giữ quyền nhiếp chính trợ giúp rất nhiều.
Người Mãn Châu nhận ra rằng việc kiểm soát "Thiên Mệnh" là một nhiệm vụ hết sức to lớn. Sự rộng lớn của lãnh thổ Trung Quốc đồng nghĩa với việc triều đình chỉ có đủ quân đội để đồn trú tại những thành phố chính và xương sống của mạng lưới phòng ngự dựa chủ yếu vào những người lính nhà Minh đã đầu hàng.
Hơn nữa, các tướng lĩnh nhà Minh đã đầu hàng trước đó cũng được lựa chọn theo mức độ đóng góp vào việc thành lập nhà Thanh, được phong tước trở thành các lãnh chúa phong kiến (藩王- phiên vương), và được quyền cai quản những vùng đất rộng lớn ở phía nam Trung Quốc. Người đứng đầu số đó là Ngô Tam Quế (吳三桂), được trao các tỉnh Vân Nam và Quý Châu, trong khi các vị tướng khác như Thượng Khả Hỉ (尚可喜) và Cảnh Trọng Minh (耿仲明) được giao cai quản các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Ba người này được người Trung Quốc gọi chung bằng cái tên Tam Phiên.
Sau một thời gian, ba vị lãnh chúa này và những vùng đất đai của họ cai quản dần trở thành hình thức tự trị. Cuối cùng, vào năm 1673, Thượng Khả Hỉ thỉnh cầu Khang Hi, bày tỏ ước vọng muốn được trở về quê hương tại tỉnh Liêu Đông (遼東) và chỉ định con trai làm người kế nhiệm. Vị hoàng đế trẻ cho phép ông ta về nghỉ nhưng từ chối trao chức vụ cho người con trai. Trước sự kiện đó, hai vị tướng kia cũng quyết định xin về hưu để thử phản ứng của Khang Hi, cho rằng ông ta sẽ không dám liều xúc phạm đến họ. Hành động này mang lại kết quả trái ngược với mong đợi của họ khi vị hoàng đế trẻ tuổi lừa phỉnh họ bằng cách chấp nhận các yêu cầu và đoạt lại ba vùng đất đó cho triều đình.
Thấy mình bị tước đoạt quyền lực, Ngô Tam Quế cho rằng ông ta không còn lựa chọn nào khác ngoài cách làm loạn. Ngô Tam Quyến cùng Cảnh Trọng Minh và con trai Thượng Khả Hỉ là Thượng Chi Tín (尚之信) thành lập liên minh. Cuộc nổi dậy diễn ra sau đó kéo dài tám năm. Ở thời phát triển mạnh nhất, lực lượng nổi dậy đã tìm cách mở rộng tầm kiểm soát của mình về hướng bắc tới tận sông Trường Giang (長江). Dù vậy, cuối cùng triều đình nhà Thanh tiêu diệt được cuộc nổi dậy và kiểm soát được toàn bộ miền nam Trung Quốc. Trong lịch sử Trung Quốc, sự kiện này được gọi là Loạn Tam Phiên.
Để củng cố đế chế, Khang Hi đích thân chỉ huy một loạt các chiến dịch quân sự tấn công Tây Tạng, người Dzungars, và sau này là cả nước Nga. Ông dàn xếp một cuộc hôn nhân giữa con gái mình với vị Hãn Mông Cổ là Gordhun (Chuẩn Cát Nhĩ) nhằm tránh một cuộc xung đột quân sự. Các chiến dịch quân sự của Gordhun chống lại nhà Thanh đã chấm dứt, giúp tăng cường sức mạnh đế chế. Đài Loan cũng bị các lực lượng nhà Thanh chinh phục năm 1683 từ tay con trai của Trịnh Kinh là Trịnh Khắc Sảng (鄭克塽,) (cháu nội Trịnh Thành Công, người đã đoạt lại quyền kiểm soát Đài Loan từ tay thực dân Hà Lan). Tới cuối thế kỷ 17, Trung Quốc đạt tới đỉnh cao quyền lực của mình kể từ thời đầu nhà Minh.
Khang Hi cũng cho phép nhiều nhà truyền giáo thuộc các Giáo hội Thiên chúa tới Trung Quốc để truyền đạo. Dù họ không đạt được mục đích cải đạo cho đa số dân Trung Quốc, Khang Hi vẫn cho họ sống yên ổn tại Bắc Kinh.
Lăng Hoàng đế Thủy tổ dân tộc Trung Hoa - 11/1/2006 5h:0
"Trung
Hoa khai quốc 5 ngàn năm cũ,
Tổ tông truyền nối từ Hiên Viên đất Thần Châu.
Làm xe chỉ Nam, bình giặc dữ,
Văn minh thế giới, có ta đi đầu..."
Tổ tông truyền nối từ Hiên Viên đất Thần Châu.
Làm xe chỉ Nam, bình giặc dữ,
Văn minh thế giới, có ta đi đầu..."
Tôn
Trung Sơn (Văn tế lăng Hoàng đế)
Từ
chân núi, ta thấy những bậc đá vươn lên, ngoằn nghoèo, khi ẩn khi hiện trong những
rừng bách xanh tươi. Trên những bậc đá ấy không biết đã in bao dấu chân người
trở về đây bái ngưỡng tổ tiên. Khi lên hết những bậc đá, sẽ đi qua một con đường
"Hoàng Lăng cổ đạo" dưới hai hàng cây bách cổ thụ cao vút, sẽ gặp
một tấm đá hình chữ nhật trông thẳng với dòng chữ "Văn võ quan viên tới
đây xuống ngựa", và không khí bỗng trở nên trang nghiêm hơn. Đi thêm
khoảng 200m nước, qua một ngôi miếu nhỏ, sẽ nhìn thấy lăng Hoàng đế cao 3,6m;
chu vi 48m, có xây tường vây bằng gạch Thanh cao 2m, trên lăng dây cheo chằng
chịt, trước lăng, dựng một phiến đá lớn với bốn chữ: "Hoàng Đế
Lăng".Đây là một đình tế cổ lão nhất ở phương Đông, và cũng là một lăng mộ Hoàng đế giản dị nhất trên đại lục Trung Quốc.
Lăng Hoàng đế là thế giới của cây bách. Những người già ở đây cho biết, từ Đồng Xuyên ngược lên phía Bắc, hàng mấy trăm dặm đều là núi trống đồi trọc, nhưng riêng ở Kiều Sơn thì lại có điều lạ là rừng bách bạt ngàn lớn nhất trong toàn quốc, số lượng lên tới hơn 8 vạn cây. Rừng bách này như dùng để che phủ riêng cho lăng tẩm Hoàng đế. Ở đền Hiên Viên dưới chân núi, có một cây bách lớn nhất do "chính tay Hoàng Đế trồng", cao tới hơn 19m, và phải 8 người lớn mới ôm xuể, tuổi của nó phải trên 5000 năm, đây có thể là "cây tổ" của những cây bách trên thế giới.
Mảnh đất lăng mộ thủy tổ của các dân tộc Trung Hoa được mọi người Trung Hoa rất trân trọng. Có người cho rằng, một con rồng lớn đã từ đây bay lên và biến mình vào không trung: bởi lẽ Bàn Long Cương là chỗ tựa, và bên trái có Long Loan, bên phải có Phương Lĩnh, và lăng Hoàng đế được đặt ở trung tâm của lưỡi rồng, giống như rồng ngậm viên trân châu, một nửa viên lộ thiên, một nửa viên vùi trong lớp đất vàng (hoàng thổ) tức là "Long châu tại hàm". Còn một điều thú vị nữa là: hai bên lăng cách khoảng 30m mỗi bên có một cây bách cao tới 8,9m; chu vi gốc khoảng 2m, hai cây bách này cũng có khoảng nghìn tuổi và vị trí đó lại ở đúng vào vị trí của cặp sừng rồng, nên người ta gọi nó là cây bách sừng rồng.
Kiều Sơn cao 944m, ba mặt có nước vây quanh, và bên kia dòng nước ngăn đó là Ấn Đài Hợp Sơn (cao 942,6m) vọng về, giống như một ức Thái Cực đồ, hai ngọn núi ấy lại giống như đôi mắt song ngư trong Thái Cực đồ vậy. Và đài tiền Hán Vũ lại giống như một con thuyền nhỏ trong biển biếc và đã dừng ở đấy một cách trang nghiêm, lặng lẽ 5 ngàn năm.
Hoàng đế là một vị đế đầu tiên thống nhất được cả dân tộc Trung Hoa, là thủy tổ chung của 65 dân tộc Hoa Hạ, đồng thời cũng là thủy tổ của hàng tỷ người Hoa ở trong nước và ngoài nước.
Trong đền Hiên Viên có tượng đá của Hoàng Đế nổi tiếng do đền Hán Vũ Lương cung tiến. Tuy tướng mạo, hình thể cũng chẳng lấy gì làm cao to, anh tuấn nhưng đó lại là người tạo ra sự rực rỡ huy hoàng, là người lãnh tụ vĩ đại, lãnh đạo liên minh các bộ lạc với đầy vẻ thuần hậu chất phác như một người nông dân. Và một lẽ Hoàng đế là người, chứ không phải là Thần, Thánh. Người do tinh huyết tạo nên do cha mẹ sinh ra, có thân thể xác thịt do trời đât nuôi dưỡng. Nền văn hóa Trung Hoa được bắt đầu từ thời đại Hoàng đế, và qua 5 ngàn năm được đất trời gọt rửa, nay đã trở thành một trong những nền văn hóa ưu tú của thế giới.
Trong đền Hiên Viên có rất nhiều bia đá, đều là những thủ bút của nhiều danh gia trong các thời đại, một niềm ca ngợi công đức của tổ tiên. Riêng bia đá khắc văn tế của các triều đại cũng đã lên hơn 700 tấm. Trong đó có hai tấm bia mới một tấm khắc bài văn tế của Mao Trạch Đông đại diện cho Đảng Cộng Sản và Chính phủ Xô Viết năm 1973, tấm thứ hai là bút tích của Tưởng Giới Thạch, viết năm 1942, với ba chữ kính đề: "Hoàng Đế Lăng". Hai con người có vị trí chính trị lớn lao này, với hai chính kiến khác nhau, nhưng đứng trước vị Hoàng đế thủy tổ đã có cùng một lòng kính mộ giống nhau sẽ mãi mãi là cảnh quan thiên nhiên vĩ đại của Trung Hoa và nhân loại.
Rừng bách xanh tươi của Kiều Sơn che phủ lăng Hoàng Đế sẽ mãi mãi là cảnh quan thiên nhiên vĩ đại của Trung Hoa và nhân loại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét